Sức sống nơi đầu sóng (P2): Đảo Lý Sơn
Mảnh đất giữa biển khơi này từng nổi tiếng trong câu ca dao thủy trình:
Trực nhìn ngó thấy Bàn Than
Ba hòn lao Ré nằm ngang Sa Kỳ
![]() |
Trước đây, Lý Sơn được gọi là cù lao Ré, theo cách lý giải của dân gian là “cù lao có nhiều cây Ré”. Hòn đảo là vết tích còn lại của một núi lửa với 5 miệng, được hình thành cách đây 25-30 triệu năm. 5 ngọn núi là nguồn giữ các mạch nước ngầm chính cung cấp nguồn nước cho toàn bộ người dân trên đảo.
Trấn giữ nơi đầu sóng ngọn gió, Lý Sơn cũng là đảo quê gắn liền với nhiều trang sử hào hùng của dân tộc. Theo sách “Đại Nam thực lục” (bộ chính sử của nhà Nguyễn) thì khi triều đình thành lập Hải đội Hoàng Sa, hưởng ứng chiếu Vua ban, hàng năm nhân dân Lý Sơn lại tuyển chọn những thanh niên trai tráng trên đảo vào đội Bắc Hải, khai thác và bảo vệ vùng biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.
Những người đi lính Hoàng Sa được nhà vua gọi là những “hùng binh”. Ở Lý Sơn có đến hơn 40 tộc họ có người tham gia các đội hùng binh vâng mệnh triều đình giăng buồm ra Hoàng Sa và Trường Sa khai thác sản vật, cắm mốc chủ quyền lãnh hải, đến nay còn lưu danh. Chính vì vậy, huyện đảo Lý Sơn diện tích vẻn vẹn 10km2 nhưng có đến 10 di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia và cấp tỉnh, trong đó có hơn 1 nửa di tích, nhà thờ, tư liệu quý ở các tộc họ liên quan trực tiếp đến lịch sử bảo vệ chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.
Có thể nói, lịch sử bảo vệ chủ quyền đối với 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của dân tộc được viết bằng mồ hôi, xương máu và cả sinh mạng của nhiều thế hệ tráng đinh của 2 làng An Vĩnh và An Hải trong cửa biển Sa Kỳ và sau này là 2 phường An Vĩnh và An Hải trên đảo Lý Sơn. Họ thật sự là những anh hùng vô danh, mãi mãi được lưu truyền trong tâm thức của người dân Quảng Ngãi hôm nay và mai sau.
Đời nối đời, truyền thống đẹp đẽ ấy luôn được người dân nơi đây gìn giữ, phát huy và trân trọng. Phần lớn những người lính quả cảm nhận nhiệm vụ ra bảo vệ vùng biển đảo xa xôi trong điều kiện phương tiện tàu thuyền đi lại trên biển thô sơ đã không bao giờ trở về.
Từ thực tiễn ấy, ở Lý Sơn đã hình thành những câu hát dân gian "Hoàng Sa lắm đảo nhiều cồn/Chiếc chiếu bó tròn mấy sợi dây mây"; "Chiều chiều ra ngóng biển xa/Ngóng ai đi lính Trường Sa chưa về"… Và, rất nhiều câu ca nói về Hải đội Hoàng Sa được nhiều người dân trên đảo nhớ và thuộc để truyền cho thế hệ mai sau về một thời bi hùng oanh liệt trong trang sử bảo vệ chủ quyền quốc gia trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Mỗi chuyến đi là "một đi không trở lại" nên người dân trên đảo lập các ngôi mộ kiểu “chiêu hồn nhập cốt”, hiện còn các mộ của Cai đội Phạm Quang Ảnh, Phạm Hữu Nhật và một số "mã liếp" (mộ chiêu hồn) của các đội Hoàng Sa đã bỏ mình trên biển cả. Đó là những ngôi mộ được làm bằng đất sét giả cốt người để con cháu tưởng niệm thờ cúng. Ngoài ra, người dân Lý Sơn còn phối thờ Cai đội Võ Văn Khiết, Phạm Quang Ảnh, Chánh Thủy quân Suất đội Phạm Hữu Nhật và những hùng binh trong đội Hoàng Sa xưa tại di tích Âm linh tự, đình làng An Vĩnh và một số dinh, miếu thờ khác để ngàn đời nhớ đến công lao của họ.
Theo quan niệm của nhân dân, đội Hoàng Sa khi làm nhiệm vụ trên biển luôn gặp nhiều rủi ro, thường chỉ có đi mà không có về, nên trong buổi tế người ta làm những hình người bằng giấy hoặc bằng bột gạo và dán giấy ngũ sắc, làm thuyền bằng thân cây chuối, đặt hình nộm lên để làm giả những đội binh thuyền Hoàng Sa đem tế tại đình, tế xong đem thả ra biển, với mong muốn đội thuyền kia sẽ chịu mọi rủi ro thay cho những người lính của đội Hoàng Sa, đồng thời tạo niềm tin và ý chí cho người lính làm hoàn thành nhiệm vụ theo lệnh vua.
Về sau, khi đội Hoàng Sa không còn nữa, các tộc họ có người đi lính Hoàng Sa đã tự tổ chức tế lễ theo nghi thức xưa tại nhà thờ tộc họ của mình để tưởng nhớ và trở thành một phong tục đẹp, một dấu ấn văn hóa tâm linh trong đời sống của các thế hệ người Lý Sơn. Lễ “khao lề thế lính Hoàng Sa” thường được các tộc họ có người đi lính Hoàng Sa xưa (như họ Võ, họ Phạm…) tổ chức vào dịp "cúng việc lề" của họ và do cộng đồng tổ chức tại đình làng vào ngày 15, 16 tháng 3 Âm lịch.
![]() |
Để chuẩn bị lễ khao lề, người ta làm 05 mô hình thuyền, các phẩm vật tế lễ, bài vị của các Cai đội Hoàng Sa và những binh lính trong đội, bài vị của các vị thần cai quản biển cả. Trước khi tổ chức lễ khao lề, Ban tế tự đình làng tổ chức lễ tế thần vào đêm trước và tổ chức lễ cầu an cho vong linh các chiến sĩ đội Hoàng Sa. Lễ khao lề được tổ chức ngoài sân đình và do các tộc họ cùng thầy pháp thực hiện. Ông Cả làng và các chức sắc trong làng tham gia làm bồi tế, với sự tham dự của hàng nghìn người dân trong huyện, du khách trong và ngoài tỉnh.
Để thực hiện nghi lễ, người ta chuẩn bị 03 ban thờ đặt đồ tế như thịt heo, gà, muối, bánh khô…, bài vị các Cai đội và chiến sỹ Hoàng Sa. Trước các ban thờ là 05 mô hình thuyền câu (loại thuyền đội Hoàng Sa dùng đi biển). Sau khi thầy pháp thực hiện các nghi thức bắt ấn trừ tà, làm phép để an vị các vong linh chiến sỹ Hoàng Sa, là nghi thức đọc văn tế.
Tiếp theo nghi thức tế tại sân đình là nghi thức thả thuyền tế ra biển. Các thuyền tế được đưa ra ngoài biển khơi để thả trôi theo dòng nước, cầu cho vong linh những người lính trong đội Hoàng Sa xưa được siêu thoát và cầu mong cuộc sống yên bình cho mỗi cá nhân và cả cộng đồng.
Những năm gần đây, lễ khao lề thế lính Hoàng Sa được địa phương tổ chức khá long trọng, với sự tham gia đông đảo của nhân dân trên đảo Lý Sơn và nhiều địa phương khác trong tỉnh Quảng Ngãi. Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa được tổ chức kết hợp với các sinh hoạt văn hóa như: Hội hoa đăng, hát bội, múa lân, lễ rước và lễ hội đua thuyền tứ linh truyền thống.
Không chỉ là một lễ hội độc đáo, giàu tính nhân văn, thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn của người Việt Nam mà đây còn là một bằng chứng phi vật thể khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa là một phần lãnh thổ thiêng liêng, không thể tách rời của Tổ quốc ta.
Hằng năm vào mỗi độ tháng Hai âm lịch, sau một mùa ra khơi, tàu thuyền của ngư dân Lý Sơn dù đang đánh bắt ở đâu cũng trở về quê hương để dâng nén tâm nhang lên tiên tổ, thần linh và trời đất, cảm tạ công ơn chở che, phù hộ cho tàu thuyền được một năm thuận buồm xuôi gió, tôm cá bội thu... Những lễ vật này là tấm lòng tri ân thành kính với những bậc tiền nhân đã có công cắm mốc chủ quyền biển đảo của Tổ quốc, để thế hệ con cháu có ngư trường đánh bắt hải sản, đem lại cuộc sống ấm no cho hôm nay và mai sau.
(còn tiếp)