Việt Nam cam kết hợp tác với LHQ tăng cường pháp quyền, tôn trọng chủ quyền
Phó Tổng thư ký LHQ Amina Mohammed đã tham dự và trình bày báo cáo về tăng cường và phối hợp các hoạt động của LHQ về pháp quyền.
![]() |
Đại sứ Nguyễn Phương Nga. |
Các phát biểu tại phiên thảo luận đều cho rằng tăng cường pháp quyền là hoạt động vô cùng quan trọng của hệ thống LHQ; tôn trọng pháp quyền ở cả cấp độ quốc gia và quốc tế là thiết yếu trong việc xử lý các thách thức an ninh, xung đột hiện nay. Các nước Không liên kết nhấn mạnh tất cả các nước lớn hay nhỏ đều phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương LHQ, không diễn giải luật pháp quốc tế một cách có chọn lọc hay áp dụng tiêu chuẩn kép trong quan hệ quốc tế. Các nước cũng đã đề xuất những giải pháp, khuyến nghị nhằm tiếp tục quảng bá, đào tạo và nghiên cứu luật pháp quốc tế nhằm xây dựng một hệ thống quốc tế dựa trên luật lệ.
Phát biểu tại phiên thảo luận, Đại sứ Nguyễn Phương Nga, Trưởng Phái đoàn đại diện thường trực Việt Nam tại LHQ nhấn mạnh vai trò nền tảng của pháp quyền trong việc duy trì hòa bình ổn định, thúc đẩy phát triển bền vững và bảo vệ quyền con người; pháp quyền ở cấp độ quốc gia và quốc tế có liên quan chặt chẽ với việc thực hiện Chương trình Nghị sự 2030 về Phát triển bền vững. Việc thúc đẩy pháp quyền cần phải dựa trên các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương LHQ và luật pháp quốc tế, nhất là nguyên tắc bình đẳng chủ quyền, tôn trọng chủ quyền, độc lập chính trị và toàn vẹn lãnh thổ của các nước, không can thiệp vào công việc nội bộ và giải quyết hòa bình các tranh chấp.
Đại sứ cũng nêu rõ Việt Nam đang cùng với các nước ASEAN nỗ lực xây dựng Đông Nam Á thành khu vực hòa bình, ổn định và thịnh vượng. Trong bối cảnh tình hình biển Đông diễn biến phức tạp, Việt Nam kêu gọi tất cả các bên liên quan kiềm chế và giải quyết xung đột bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Luật biển LHQ 1982, tôn trọng các tiến trình ngoại giao và pháp lý, thực hiện Tuyên bố chung về ứng xử giữa các bên ở biển Đông và sớm hoàn thiện Bộ Quy tắc ứng xử có hiệu quả và có tính ràng buộc pháp lý.
Đại sứ khẳng định Việt Nam cam kết tiếp tục hợp tác với LHQ và các nước thành viên tăng cường pháp quyền nhằm thực hiện thắng lợi các Mục tiêu Phát triển bền vững.
Công ước Luật biển 1982 là hiến pháp của biển, là cơ sở pháp lý chung cho việc giải quyết các tranh chấp biển, trong đó có phân định vùng biển và thềm lục địa chồng lấn giữa các nước xung quanh Biển Đông.
Sau hơn 4 năm chuẩn bị và 9 năm đàm phán, ngày 10/12/1982, Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (gọi tắt là Công ước Luật biển 1982), tên tiếng Anh là United Nations Convention on the Law of the Sea, hay thường được gọi tắt là UNCLOS 1982, được 107 quốc gia, trong đó có Việt Nam, ký tại Montego Bay, Jamaica (tính đến nay, số quốc gia ký là 157), đánh dấu thành công của Hội nghị LHQ về Luật biển lần thứ 3, với sự tham gia của trên 150 quốc gia và nhiều tổ chức quốc tế, kể cả các tổ chức quốc tế phi chính phủ, cùng xây dựng nên một Công ước mới về Luật biển, được nhiều quốc gia, kể cả những quốc gia không có biển, cùng chấp nhận.
Sau Hiến chương LHQ, Công ước Luật biển 1982 được đánh giá là văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng nhất kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, được nhiều quốc gia ký kết và tham gia. Công ước Luật biển 1982 có hiệu lực từ ngày 16/11/1994 (12 tháng kể từ ngày Guyana, nước thứ 60 phê chuẩn Công ước ngày 16/11/1993). Là một văn kiện pháp lý đa phương đồ sộ, bao gồm 320 điều khoản và 9 Phụ lục, với hơn 1000 quy phạm pháp luật,Công ước Luật biển 1982 đã đáp ứng nguyện vọng và mong đợi của cộng đồng quốc tế về một trật tự pháp lý quốc tế mới đối với tất cả các vấn đề về biển và đại dương, bao gồm cả đáy biển và lòng đất dưới đáy biển.
Công ước Luật biển 1982 thực sự là một bản hiến pháp về biển của cộng đồng quốc tế bởi Công ước không chỉ bao gồm các điều khoản mang tính điều ước mà còn là văn bản pháp điển hoá các quy định mang tính tập quán. Công ước Luật biển 1982 thể hiện sự thoả hiệp mang tính toàn cầu, có tính đến lợi ích của tất cả các nước trên thế giới, dù là nước công nghiệp phát triển hay là nước đang phát triển… Công ước không chấp nhận bảo lưu mà đòi hỏi các quốc gia phải tham gia cả gói (package deal), có nghĩa là việc phê chuẩn hoặc tham gia Công ước đòi hỏi quốc gia phải có trách nhiệm thực hiện toàn bộ các điều khoản của Công ước.
Công ước Luật biển 1982 đã trù định toàn bộ các quy định liên quan đến các vùng biển mà một quốc gia ven biển có quyền được hưởng, cũng như những quy định liên quan đến việc sử dụng, khai thác biển và đại dương, cụ thể là: Quy chế pháp lý của tất cả các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia; Chế độ pháp lý đối với biển cả và Vùng - di sản chung của loài người; các quy định hàng hải và hàng không; việc sử dụng và quản lý tài nguyên biển bao gồm tài nguyên sinh vật và không sinh vật; Vấn đề bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển, an ninh trật tự trên biển; việc giải quyết tranh chấp và hợp tác quốc tế về biển; Quy chế hoạt động của cơ quan quyền lực quốc tế về đáy đại dương, Uỷ ban ranh giới ngoài thềm lục địa, toà án Luật biển quốc tế, hội nghị các quốc gia thành viên Công ước …
Tính đến ngày 3/6/2011, đã có 162 nước phê chuẩn và tham gia Công ước Luật biển 1982 (Thái lan là quốc gia thứ 162 gia nhập ngày 15/5/2011).
