Tự chủ tài chính sẽ góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục đại học
![]() |
Theo TS Nguyễn Trường Giang, cơ chế tài chính hiện hành đã bộc lộ rất nhiều hạn chế như mức học phí thấp, không đủ bù đắp chi thường xuyên; việc phân bổ ngân sách nhà nước cho các cơ sở đào tạo công lập mang tính bình quân, chưa gắn với nhu cầu đào tạo, cơ cấu ngành nghề, chất lượng đào tạo; đặc biệt cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm tài chính còn nhiều bất cập.
Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập. Nhưng việc giao tự chủ tài chính nhưng không được giao tự chủ về mức thu học phí, các cơ sở đào tạo vẫn phải thực hiện mức thu học phí trong trần quy định thấp, không bù đắp đủ chi phí hoạt động thường xuyên nên việc thực hiện tự chủ tài chính không thực chất.
Một số cơ sở đào tạo đi tiên phong trong việc thực hiện tự chủ toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên (Đại học Ngoại thương, Đại học Kinh tế quốc dân, Đại học Kinh tế TP.Hồ Chí Minh, Đại học Hà Nội) nhưng nhà nước thiếu những chính sách khuyến khích, dẫn đến không khuyến khích các đơn vị chuyển từ loại hình tự chủ một phần sang tự chủ toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên, không nhận hỗ trợ chi hoạt động từ ngân sách nhà nước.
Điều này đã dẫn đến các cơ sở giáo dục đại học công lập không có đủ nguồn tài chính cần thiết để bù đắp chi phí đào tạo, đảm bảo chất lượng đào tạo và tái đầu tư phát triển, không có đủ nguồn tài chính để cải thiện thu nhập cho giảng viên, không thu hút và giữ được những giảng viên có trình độ chuyên tâm tham gia giảng dạy…; cơ chế phân bổ nguồn lực ngân sách nhà nước hiện hành trong giáo dục đại học chưa bình đẳng giữa cơ sở đào tạo công lập và ngoài công lập, vẫn thể hiện sự ưu tiên cho các cơ sở đào tạo công lập, không khuyến khích các cơ sở giáo dục đại học ngoài công lập phát triển; nhà nước chưa tạo ra cơ chế phù hợp để nguồn lực công được phân bổ cho những cơ sở đào tạo có khả năng sử dụng hiệu quả nhất.
Theo TS Nguyễn Trường Giang, để đổi mới cơ chế tài chính trong giáo dục đại học, cần từng bước tính đủ chi phí đào tạo cần thiết trong học phí, có thể thực hiện theo lộ trình chia ra theo các mức độ: Chi phí đào tạo tính đủ chi phí tiền lương và chi phí về nghiệp vụ giảng dạy, học tập (tính đủ chi phí thường xuyên); Chi phí đào tạo tính cả chi phí khấu hao tài sản cố định. Trên cơ sở đó, nghiên cứu, lựa chọn bước đi, xây dựng lộ trình điều chỉnh giá dịch vụ đào tạo (học phí) theo từng ngành học, đảm bảo phù hợp với thu nhập của người dân, nhu cầu của xã hội và khả năng của ngân sách nhà nước để làm cơ sở cho việc xác định mức học phí phù hợp.
Nhà nước cần phải thực hiện tái cơ cấu phân bổ nguồn lực ngân sách nhà nước cho giáo dục đại học theo hướng ưu tiên cho việc xây dựng, tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị, cơ sở dùng chung, … đảm bảo chất lượng đào tạo. Ngân sách nhà nước giảm dần, tiến tới không hỗ trợ chi phí đào tạo đối với những ngành học đã đáp ứng nhu cầu xã hội, ngành học mà người học và gia đình sẵn sàng bỏ chi phí để theo học; tiết kiệm ngân sách nhà nước để tăng chi, tăng mức hỗ trợ cho những ngành học mà xã hội có nhu cầu nhưng không có người theo học.
Đổi mới cơ chế tài chính, khuyến khích chuyển các cơ sở giáo dục đại học sang thực hiện theo phương thức tự chủ toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên, không nhận hỗ trợ kinh phí thường xuyên từ ngân sách nhà nước; sẽ được tự chủ trong xác định chỉ tiêu tuyển sinh gắn với khả năng đào tạo và nhu cầu xã hội, phù hợp với các tiêu chí đảm bảo chất lượng theo quy định của Nhà nước; các trường cũng được tự chủ trong việc xác định mức học phí đảm bảo bù đắp chi phí hoạt động thường xuyên và từng bước có tích lũy tái đầu tư tài sản; các trường được tự chủ trong việc sử dụng tài sản trong liên doanh, liên kết; được tự chủ trong việc xác định mức tiền lương và phương thức chi trả tiền lương trong khả năng cân đối nguồn tài chính.
Tiếp tục hoàn thiện chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người học, giảm bớt các thủ tục hành chính trong việc xác định đối tượng được hỗ trợ và phương thức thanh toán cho đối tượng được hỗ trợ; người học sử dụng kinh phí được nhà nước hỗ trợ để đóng học phí cho các cơ sở đào tạo.
