4 hiện vật Đà Nẵng đề nghị công nhận bảo vật quốc gia có gì đặc sắc?
![]() |
Tháng 8/2013, "Quả tim lửa" được đưa từ chùa Tam Thai xuống trưng bày tại cuộc triển lãm cổ vật Phật giáo ở Bảo tàng Đà Nẵng. Đây cũng là lần đầu tiên báu vật này hạ sơn sau gần 190 năm! (Ảnh: HC) |
4 hiện vật được đề nghị là “Quả tim lửa” hiện được lưu giữ tại chùa Tam Thai, bia “Phổ Đà sơn linh trung Phật” tại động Hoa Nghiêm (thuộc di tích thắng cảnh Ngũ Hành Sơn); bia “Nghĩa trủng Phước Ninh” tại di tích Nghĩa trủng Phước Ninh và bia “Chùa Long Thủ” tại chùa Long Sơn (quận Hải Châu).
“Quả tim lửa” hiện được lưu giữ ở Nhà Tổ phía sau chánh điện chùa Tam Thai là một phiến đồng hình chiếc lá đề, chiều rộng nhất 45cm, chiều hẹp nhất 35cm, chung quanh có hình tượng tia lửa đang cháy nên được gọi là "quả tim lửa", nay đã gần 190 năm tuổi, với bút tích của một vị vua được cho là anh minh nhất triều Nguyễn.
Theo di ngôn của vua Gia Long, năm Minh Mạng thứ sáu (1825), vua Minh Mạng cho xây dựng lại chùa Tam Thai, biến cảnh hoang vu thành nơi phát triển đạo Phật. Chuyện này dân gian còn nhắc: “Gia Long phát nguyện, Minh Mạng lập chùa”. Khi khánh thành chùa, vua Minh Mạng ban một tấm biển ghi: "Ngự chế Tam Thai tự, Minh Mạng lục niên phụng tạo" (tạm dịch: Ngự chế chùa Tam Thai, lập năm Minh Mạng thứ sáu).
Kèm theo đó là "quả tim lửa" bằng đồng. Mặt trước ghi: "Ngã Như Lai dĩ pháp vương ngự thế, hoằng tế nhân thiên biến hiện thập phương hư không thường trú, tác thập đại công đức nhi viêm phương độc hậu yên" (tạm dịch: "Đức Như Lai của ta đã cai quản thế gian này bằng pháp môn vô thượng, rộng lòng tế độ cho trời người, thoắt ẩn thoắt hiện khắp mười phương hư không thường trú, tạo ra mười công đức lớn mà không chỉ riêng nước Nam ta chịu ân huệ sâu dày này"). Mặt sau ghi: "Minh Mạng lục niên kiết nhật tạo" (tạm dịch: Làm vào ngày tốt năm Minh Mạng thứ sáu).
Rẽ vào lối đi bên phải chùa Tam Thai, du khách sẽ gặp cửa động "Huyền Không Quan", qua khỏi cổng là động Hoa Nghiêm - một động nhỏ thờ Quan Thế Âm, trên vách động là tấm bia Phổ Đà Sơn Linh Trung Phật quý hiếm do nhà sư Huệ Đạo Minh lập năm Canh Thìn (1640). Bia ghi lại việc trùng tu chùa và tôn vinh công đức của các phật tử; trong đó có nhiều gia đình người Nhật Bản, Trung Hoa sống ở Hội An đến làm công đức xây dựng chùa.
Trong khi đó, bia chùa Long Thủ được dựng năm Thịnh Đức thứ 5, triều vua Lê Thần Tông (1658) trong khuôn viên chùa Long Thủ (nay là chùa An Long), tọa lạc trên khu đất sau lưng Bảo tàng Điêu khắc Chăm (phường Bình Hiên, quận Hải Châu). Bia làm bằng sa thạch màu xám, hình thang cân đỉnh tròn (1,25m x 1,20m x 0,21m).
![]() |
Tấm bia bằng đá sa thạch, cao 1,2m, rộng 0,8m ghi công ơn các anh hùng liệt sĩ tại Nghĩa trủng Phước Ninh (Ảnh: HC) |
Theo nội dung bia, ngày xưa ở vùng Nại Hiên, đức Phật thường cứu giúp những người bị hoạn nạn và hiện thân với đầu rồng, vì vậy các tín đồ Phật từ thường đến đây cầu nguyện. ông Trần Hữu Lễ là người trong làng đã dâng cúng một khu vườn để xây dựng ngôi chùa làm nơi thờ Phật, các tín đồ trong vùng đóng góp tiền của, ruộng đất xây dựng ngôi chùa và đúc chuông, tạc tượng vào năm 1653.
Trước kia chùa có hai chiếc chuông lớn và nhiều tượng đẹp nhưng đã mất, ngôi chùa cũng bị phá hủy trong thời chiến tranh Tây Sơn - Nguyễn Ánh. Còn tấm bia bị chôn vùi dưới đất, mãi đến năm 1903 mới tìm thấy và dựng lại cạnh cổng chùa. Năm 1961 giáo hội và tín đồ trong vùng đã xây dựng lại ngôi chùa theo kiểu dáng những ngôi chùa cùng thời ở miền Nam, về mặt kiến trúc không có gì đặc sắc ngoại trừ cổng tam quan tương đối cũ (1903).
Tấm bia này là một di tích quan trọng, minh chứng cho sự hiện hữu của ngôi chùa ngày xưa, đồng thời đây cũng là một trong những tấm bia cổ nhất ở Đà Nẵng, góp thêm tư liệu cho việc nghiên cứu lịch sử địa phương. Bia chùa Long Thủ từng được Toàn quyền Đông Dương liệt hạng là di tích lịch sử theo Nghị định ngày 16/5/1925. Ngày 2/12/1992, Bộ VH-TT đã ra quyết định công nhận bia chùa Long Thủ là di tích lịch sử cấp quốc gia.
Còn bia “Nghĩa trủng Phước Ninh” được lập năm Tự Đức thứ 29 (1876) khi Án sát Quảng Nam Nguyễn Quý Linh và Lãnh binh Trương Tải Phú chọn đất làng Phước Ninh (nay là phường Phước Ninh, quận Hải Châu) làm nơi quy tập hài cốt của những nghĩa sĩ, nghĩa dân đã hy sinh trong buổi đầu kháng Pháp những năm 1858-1860. Quản cơ Nguyễn Lân cùng Hiệp quản Nguyễn Đồ đã chỉ huy quân lính tìm được hơn 1.500 ngôi mộ, bốc hài cốt vào những quách bằng sành, đưa về mai táng tại Nghĩa trủng Phước Ninh.
Hiện ở đây chỉ còn lưu lại một tấm bia bằng đá màu xanh đen, cao 1,2m, rộng 0,8m, chữ khắc một mặt, bao quanh bằng lớp vôi hồ. Do phong hóa, một số chữ bị hỏng mờ, nhưng nhờ nội dung bia mà chúng ta biết được nhiều điều như số lượng hài cốt được quy tập, danh tánh những người đứng ra điều hành công việc có ý nghĩa lớn mang tinh thần “uống nước nhớ nguồn” này, lý do chọn nơi đặt nghĩa trủng, tên họ tác giả của văn bia...
Trước đó, tháng 10/2012, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký quyết định công nhận bảo vật quốc gia đợt đầu cho 30 hiện vật lịch sử, trong đó TP Đà Nẵng có 3 hiện vật là: Đài thờ Mỹ Sơn E1, Đài thờ Trà Kiệu và Tượng Bồ tát Tara. Cả 3 bảo vật này đều thuộc nền văn hóa Chăm Pa, đang được lưu giữ tại Bảo tàng Điêu khắc Chăm, TP Đà Nẵng.
Theo khoản 21 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa, việc lựa chọn bảo vật quốc gia được thực hiện theo tiếu chí: là hiện vật gốc độc bản; có hình thức độc đáo; có giá trị đặc biệt liên quan đến một sự kiện trọng đại của đất nước hoặc liên quan đến sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân tiêu biểu; hoặc là tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng về giá trị tư tưởng, nhân văn, giá trị thẩm mỹ tiêu biểu cho một khuynh hướng, một phong cách, một thời đại; hoặc là sản phẩm được phát minh, sáng chế tiêu biểu, có giá trị thực tiễn cao, có tác dụng thúc đẩy xã hội phát triển ở một giai đoạn lịch sử nhất định; hoặc là mẫu vật tự nhiên chứng minh cho các giai đoạn hình thành và phát triển của lịch sử trái đất, lịch sử tự nhiên…

