“Kỷ niệm 60 năm giải phóng Thủ đô - hành trình tìm lại ký ức”
Tham gia buổi giao lưu - tọa đàm có:
1, Đại tá Nguyễn Quang Tiềm - Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh TP Hà Nội, nguyên phó Chủ nhiệm chính trị Quân đoàn I.
2, Đại tá Lê Duy Tư nguyên chủ nhiệm bộ môn kinh tế chính trị .Học viện Chính trị, là chiến sỹ Trung đoàn 102 - đơn vị tiếp quản Thủ đô
3, Đại tá Dương Niết - nguyên Phó Giám đốc Học viện Phòng không không quân, chiến sỹ Trung đoàn 102 - đơn vị tiếp quản Thủ đô
4, Đại tá, TS Trần Văn Thức, Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử kháng chiến chống Pháp - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
5, Nhà nghiên cứu văn hóa Giang Quân

Ông Nguyễn Minh Đức, Tổng Biên tập báo Kinh tế & Đô thị tặng hoa các khách mời.
Tại buổi giao lưu trực tuyến, Nhà nghiên cứu văn hóa Giang Quân chia sẻ: Có thể nói tôi đã sống 5 năm ở HN thời bị tạm chiếm 1950 - 1954, tôi hiểu rõ về HN thời cũ ấy - một thời gian khổ mà giặc Pháp chiếm đóng, bắt bớ giam cầm những người HN yêu nước. Lúc đó HN có đủ quân đội, cảnh sát... Chúng tôi, những văn nghệ sĩ sống tại HN thời đó, đã thực hiện đúng lời dặn của Bác Hồ: HN bây giờ trở thành đầu não của giặc Pháp, chúng ta phải làm cho đầu não nó không bao giờ được yên ổn để chờ đến ngày lấy lại HN... Tất cả chúng tôi đều có tinh thần như thế. Bà con tiểu thương thì bãi thị đòi giảm thuế, cung cấp chỗ ngồi yên ổn để buôn bán, chống địch bắt lính… Học sinh thì bãi khóa phản đối các chính sách của giặc Pháp, anh em văn nghệ sĩ thì tìm mọi cách khêu gợi lòng yêu nước của người dân qua báo chí của địch... Chúng tôi biết ở HN thời gian này phải hoạt động tế nhị, làm thế nào để lọt qua lưới kiểm duyệt của giặc Pháp để viết, để sáng tác. Tôi đã có 10 vở kịch thơ trong thời gian HN tạm chiếm, song câu chữ viết lúc nào cũng khéo léo, tế nhị để nói lên được điều mình muốn bày tỏ về chiến tranh, về giặc Pháp… Ví dụ, nói về cuộc chia li giữa miền trong và miền ngoài, thì lấy sông Gianh để nói về chia cắt hai miền. Chữ “bãi binh” trở thành một câu nghị luận của thời đó.
Thời tạm chiếm tôi sống ở HN, tôi hiểu được giá trị của hòa bình, của độc lập tự do. Thời ấy bà con còn cơ cực lắm, song ai nấy đều yêu nước. Thời đó HN đầy đủ hàng hóa, nhưng bà con tiểu thương lại mua và tích cóp lại chuyển ra vùng kháng chiến.
Chúng tôi đã sống và sáng tác, trong lòng không lúc nào ngơi hướng về Tổ quốc, không lúc nào không nghĩ đến những người con đã Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh… Chúng tôi đã hát trong tim bài ca “Tiến về HN” của nhạc sĩ trong suốt những năm ở HN để chờ đến ngày Giải phóng.

Nhà nghiên cứu văn hóa Giang Quân trả lời trực tuyến
Theo Đại tá, TS Trần Văn Thức, Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử kháng chiến chống Pháp -Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, cuộc đấu tranh ở Hà Nội từ sau chiến thắng Điện Biên Phủ đến ngày Thủ đô được giải phóng (10/10/1954) diễn ra qua 2 giai đoạn:
Thứ nhất, từ 7/5 đến ngày Hiệp định Giơnevơ được ký kết. Trong giai đoạn này, quân và dân Hà Nội tiếp tục tiến công địch trên mọi mặt trận, đồng thời phối hợp với đấu tranh ngoại giao. Cụ thể, tiếp tục đẩy mạnh phong trào đấu tranh của nhân dân, gắn liền với đấu tranh bảo vệ quyền lợi thiết thân của quần chúng như chống bắt lính vận động binh lính, chống thu thuế, đòi tăng lương, v.v, kết hợp các phương thức đấu tranh hợp pháp và bất hợp pháp.
Thứ hai, từ 21/7 đến 10/10/1954, sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết. Do Hiệp định Đình chỉ chiến sự ở Việt Nam đã được ký kết, hai bên đình chỉ chiến sự. Hà Nội thuộc vùng tập kết chuyển quân 80 ngày của Pháp, nên quân dân Hà Nội thực hiện đấu tranh đòi địch thi hành các cam kết tại Hội nghị Giơnevơ, đấu tranh trong khuôn khổ Pháp lý của Hiệp định. Cụ thể là: Tự vệ, công nhân đấu tranh chống phá âm mưu phân tán vơ vét, phá hoại máy móc, nguyên liệu; tiêu hủy hồ sơ của các cơ quan chuyên môn; cố ý phá hoại các cơ sở kinh tế, ngành phục vụ điện, nước.
Nhân dân đấu tranh chống địch cướp phá tài sản, chống bắt thanh niên đi lính, thuyết phục ngụy quân ngụy quyền không đi theo Pháp.
Đấu tranh vận động binh lính địch, ngăn chặn các hành động phá phách của chúng.
Đấu tranh chống cưỡng ép, lừa mỵ đồng bào di cư vào Nam.