Thăm nơi phát tích tên gọi Quảng trường Ba Đình
Thăm nơi phát tích tên gọi Quảng trường Ba Đình
![]() |
Khu di tích lịch sử Ba Đình đã được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử cấp Quốc gia năm 1993. |
Hào khí năm xưa
Trong thời gian làm Thị trưởng Hà Nội (từ ngày 20/7 – 19/8/1945), bác sỹ Trần Văn Lai đã lấy tên chiến khu Ba Đình đặt tên cho Quảng trường Ba Đình lịch sử ở Hà Nội và tên gọi này được giữ đến ngày nay. Trải qua 67 năm, Quảng trường Ba Đình đã trở thành một địa danh đặc biệt, nơi diễn ra nhiều sự kiện lịch sử lớn của dân tộc, là nơi Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Trong không khí cả nước hướng tới ngày dịp kỷ niệm Cách mạng tháng 8 và Quốc khánh 2/9 chúng tôi có dịp về thăm lại địa danh Ba Đình nằm cách TP Thanh Hóa gần 50 km về phía Đông. Khi hỏi thăm về chiến khu xưa, người dân ở đây đã đưa tôi đến gặp ông Trịnh Ngọc Phan, gần 80 tuổi, cán bộ lão thành cách mạng, 50 tuổi Đảng, người được người dân nơi đây cho là “nắm rõ nhất lịch sử Ba Đình”.
Kể về Chiến khu Ba Đình xưa, giọng ông Phan trầm xuống. Ông Phan cho biết, thân sinh của ông cũng là một nghĩa quân tham gia cung cấp lương thực, thực phẩm cho cuộc chiến đấu ở Ba Đình. Hồi còn sống, người nghĩa quân ấy vẫn nhắc nhở con cháu: “Chết vinh còn hơn sống nhục”. Những tích chuyện xưa về quá trình chiến đấu anh dũng, thành lũy kiên cố của Ba Đình luôn được ông truyền lại cho con cháu. Nhờ thế, đến bây giờ, ông Phan vẫn còn nhớ và kể lại những ký ức về Chiến khu Ba Đình xưa.
Căn cứ Ba Đình xưa nằm trên một khu đất nổi, xung quanh là đầm lầy, được xây dựng trên địa phận của 3 làng gồm Thượng Thọ, Mậu Thịnh và Mỹ Khê. Vào mùa mưa, nơi đây như một hòn đảo giữa cánh đồng nước mênh mông. Gọi là Ba Đình vì mỗi làng có một cái đình, từ làng này có thể nhìn thấy cái đình của làng kia.
Ông Phan kể: “Để chuẩn bị cho cuộc chiến đấu lâu dài, tướng quân Đinh Công Tráng đã cho nghĩa quân bố trí xung quanh căn cứ những lũy tre dày đặc và một hệ thống hào rộng, cắm đầy chông tre. Tiếp đến là lớp thành đất cao gần 4 m, chân rộng khoảng 8 - 10 m. Trên mặt thành, nghĩa quân đặt các rọ tre chứa đất nhào rơm xếp vững chắc có những khe hở làm lỗ châu mai. Thành có chiều rộng khoảng 400m, dài 1.200m. Phía trong có hệ thống giao thông hào dùng để vận chuyển lương thực và vận động khi chiến đấu. Ở mỗi làng, tại vị trí ngôi đình xây dựng một đồn đóng quân. Thượng Thọ có đồn Thượng, Mậu Thịnh có đồn Trung và Mỹ Khê có đồn Hạ. Ba đồn này có thể hỗ trợ tác chiến cho nhau khi bị tấn công, đồng thời cũng có thể chiến dấu độc lập. Lực lượng nghĩa quân khi ấy khoảng 300 người được tuyển chọn từ ba làng và các vùng thuộc địa phận tỉnh Thanh Hóa, gồm cả người Kinh, Thái, Mường.
Trong những năm tháng tồn tại, nghĩa quân Ba Đình đã nhiều lần chiến đấu và giành thắng lợi trước các cuộc tấn công của Pháp. Thậm chí, năm 1886, nghĩa quân còn liên tiếp mở rộng tấn công các phủ, thành huyện lị, chặn đánh các đoàn xe, các toán quân lẻ gây nhiều thiệt hại và làm chấn động tinh thần quân Pháp.
Mãi đến ngày 21/1/1887, quân Pháp phải huy động rất nhiều lực lượng mới chiếm được Ba Đình. Chính người Pháp đã phải thừa nhận: “Năm 1886 – 1887, cuộc khởi nghĩa Ba Đình là quan trọng nhất, cuộc chiến đấu này đã thu hút nhiều quân lực nhất và làm cho các cấp chỉ huy lo ngại nhất”.
Nay tại UBND xã vẫn còn lưu giữ tấm bia do tên đại uý Pháp Joffre đã ghi lại bút tích như vậy khi trở lại thăm Chiến khu Ba Đình ngày 5/1/1922.
Nhịp sống hôm nay
Dẫn chúng tôi đi trên con đường làng ra thăm khu di tích lịch sử Ba Đình, ông Phan cho biết, ngày xưa đây là con đường độc đạo dẫn vào chiến khu giữa đầm lầy hoang vu. Giờ đây hai bên đường nhiều nhà cao tầng mọc lên, chen kín. Ông Phan vui mừng cho biết, khu di tích này đang được Nhà nước quy hoạch đầu tư để tu bổ phục hồi và tôn tạo để xứng tầm với ý nghĩa lịch sử của Chiến khu Ba Đình.
Di tích Ba Đình bây giờ chỉ còn lại khu đất nhô cao gọi là núi Thúc rộng khoảng 500m2, trên đó mấy chục tảng đá cao hơn đầu người nằm xen kẽ dưới hàng cây thuộc khuôn viên của Trường THCS Ba Đình.
Đến Ba Đình hôm nay, bất cứ ai cũng có thể được ngắm những khẩu thần công, khẩu hỏa mai, chiếc rọ bằng rơm cùng vũ khí của nghĩa quân vẫn còn lưu giữ tại UBND xã để cảm nhận được cái hào hùng một thủa của nghĩa quân năm xưa. Ở Ba Đình, câu vè về cuộc chiến đấu cách đây hơn 1 thế kỷ vẫn còn được nhiều người nhớ: “Ai đi đến đất Ba Đình/ Ngắm xem lịch sử Đinh Công lập đồn/ Cùng dân cứu lấy giang sơn/Đánh Tây thây chết ngổn ngang khắp đồng”.
Theo ông Hoàng Trung Thông, nguyên Phó Bí thư Đảng ủy xã Ba Đình, Ba Đình hôm nay đang từng ngày đổi mới, trường học từ mầm non, tiểu học đến trung học cơ sở đang được xây dựng đạt chuẩn quốc gia, riêng trạm y tế xã đã được công nhận đạt chuẩn quốc gia về y tế.
Ông Viên Đình Lưu, Trưởng phòng Quản lý di sản, Sở Văn hóa, thể thao và du lịch Thanh Hóa cho biết, Khu di tích lịch sử Ba Đình đã được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử cấp Quốc gia năm 1993. Hiện nay, khu di tích đang được quy hoạch để tu bổ, phục hồi, tôn tạo cho xứng tầm với ý nghĩa lịch sử của nó.
Xuân Hải
