Tạo động lực phát triển kinh tế biển
Tạo động lực phát triển kinh tế biển
![]() |
Biển là chỗ dựa sinh kế cho khoảng 20 triệu người dân sống ở vùng ven biển và trên các hải đảo. |
Sống nhờ biển
Ba phần tư Việt Nam là biển, cứ khoảng 01 km2 đất liền thì có gần 3 km2 vùng biển đặc quyền kinh tế, gấp khoảng 1,6 lần trung bình của thế giới, cứ cách khoảng 20 km có một cửa sông lớn và đặc biệt có khoảng 3000 đảo lớn nhỏ phân bố tập trung ở ven bờ và hai quần đảo ngoài khơi là Hoàng Sa và Trường Sa. Phát huy lợi thế như vậy, Việt Nam luôn xác định biển là yếu tố quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước. Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, biển luôn là không gian sinh tồn và phát triển của dân tộc Việt.
Là một quốc gia biển lớn trong khu vực Biển Đông, biển Việt Nam chiếm vị trí địa chính trị và địa kinh tế trọng yếu trên bình đồ khu vực và thế giới. Với 10 tuyến hàng hải khu vực và quốc tế đi qua, trong đó có tuyến quốc tế lớn từ Ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương (cách Côn Đảo khoảng 38 km) khiến cho Biển Đông trở thành khu vực tàu thuyền hoạt động nhộn nhịp thứ 2 trên thế giới. Đồng thời cũng là một vùng biển phức tạp, luôn xẩy ra những cuộc tranh chấp nhiều bên và kéo dài liên quan đến không chỉ chủ quyền trên biển giữa các nước trong khu vực, mà còn đến lợi ích thực thi quyền tự do hàng hải của các nước ngoài khu vực. Trong số 3000 đảo, nhiều đảo có tiềm năng phát triển thành các trung tâm kinh tế biển đảo và mỗi hòn đảo như một “cột mốc” chủ quyền quốc gia.
Ngoài ra, ở các huyện ven biển và 12 huyện đảo của nước ta có dân cư sinh sống khá đông đúc, nguồn lao động khá dồi dào với khỏang 25 triệu dân, bằng 31% dân số cả nước và khoảng 13 triệu lao động.
Trong những năm qua, kinh tế biển Việt Nam có bước phát triển mạnh, đạt tốc độ tăng trưởng trên 10%. Trên vùng ven biển đã hình thành 3 vùng kinh tế trọng điểm (Bắc, Trung và Nam), gần 30 khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung; hệ thống hơn 80 cảng biển lớn nhỏ với tổng năng lực hàng hóa thông qua khoảng 100 triệu tấn/năm. Ngành du lịch biển cũng phát triển khá mạnh, hàng năm thu hút khoảng gần 15 triệu lượt khách, trong đó có hơn 3 triệu khách nước ngoài, bằng 73% số khách du lịch nước ngoài của cả nước, đạt tốc độ tăng bình quân 13%/năm. Hoạt động khai thác dầu khí được duy trì tại 6 mỏ ở thềm lục địa phía Nam. Sản lượng dầu thô khai thác ở nước ta tăng hàng năm 30% và ngành dầu khí nước ta đã đạt mốc khai thác 100 triệu tấn dầu thô vào ngày 13/2/2001, sản lượng khai thác dầu khí trong nước thời gian tới sẽ chững lại và sẽ giảm đến mức 13 triệu tấn (năm 2025).
Vùng biển và ven biển có đóng góp lớn vào xuất khẩu, thu ngoại tệ, chủ yếu là dầu khí và thuỷ sản. Theo các tính toán, quy mô kinh tế (GDP) biển và vùng ven biển Việt Nam các năm 2000-2005 bình quân đạt khoảng 47-48% GDP cả nước, trong đó GDP của kinh tế “thuần biển” đạt khoảng 20-22% tổng GDP cả nước. Trong các ngành kinh tế biển, đóng góp của các ngành kinh tế diễn ra trên biển chiếm tới 98%, trong đó khai thác dầu khí chiếm 64%; hải sản 14%; hàng hải (vận tải biển và dịch vụ cảng biển) hơn 11%; du lịch biển hơn 9% (2005). Các ngành kinh tế có liên quan trực tiếp tới khai thác biển như đóng và sửa chữa tàu biển, chế biến dầu khí, chế biến thủy, hải sản...
Trong quá trình phát triển kinh tế theo hướng mở, bước đầu đã hình thành 15 khu kinh tế ven biển – là các trung tâm phát triển kinh tế hướng biển. Đây là những khu vực phát triển tổng hợp các ngành, nghề biển như hậu cần nghề cá, công nghiệp gắn với cảng biển và vận tải biển, du lịch biển, đô thị hóa và nghiên cứu khoa học về biển.
Động lực phát triển
Về ngoại giao, cho đến nay, Việt Nam đã ký kết một số thỏa thuận trên biển với các nước láng giềng nhằm duy trì hòa bình, ổn định và hợp tác phát triển trong khu vực Biển Đông. Ngoài ra, Việt Nam cũng tham gia ký kết các văn kiện mang tính chất quốc tế và khu vực về Biển Đông như Phương thức ứng xử đa phương (DOC), Công ước quốc tế của Liên hợp quốc về Luật biển 1982; triển khai một số dự án hợp tác song phương và đa phương với các nước liên quan.
Bên cạnh đó, Luật Biển ra đời là việc làm bình thường của tất cả các quốc gia thành viên LHQ, Công ước của LHQ về Luật Biển năm 1982 (gọi tắt là Công ước luật biển 1982). Các nước láng giềng đã xây dựng luật cơ bản của nước họ, thậm chí làm nhiều luật về biển. Trên cơ sở Luật biển sẽ có quy định pháp lý cho từng không gian biển, tuân thủ theo nguyên tắc Công ước luật biển 1982. Luật biển cũng là nền tảng cho việc xây dựng và điều chỉnh các luật ngành, lĩnh vực dựa trên việc tuân thủ các điều ước quốc tế về lĩnh vực biển liên quan. Luật cơ bản về biển nước nào cũng có, nên việc ban hành Luật biển nước ta thì không có gì phải bàn cãi.
Tuy nhiên, xét về phương diện kinh tế, tình hình khai thác, sử dụng biển và hải đảo chưa hiệu quả, thiếu bền vững do khai thác tự phát, thiếu hoặc không tuân thủ quy hoạch biển, đảo, làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn lợi ích trong sử dụng đa ngành ở vùng ven biển, biển và hải đảo. Đặc biệt, phần lớn nguồn nhân lực đang sử dụng trong các ngành và lĩnh vực kinh tế biển chưa có kỹ năng dịch vụ tốt, nên năng suất lao động còn thấp so với khu vực và thế giới.
Ngoài thiên tai biển xảy ra thường xuyên, Việt Nam còn là một trong 5 nước chịu tác động mạnh mẽ nhất của biến đổi khí hậu và nước biển dâng, trước hết là vùng ven biển và các đảo nhỏ. Những thách thức nói trên đã, đang và sẽ ảnh hưởng rất lớn đến phát triển hiệu quả và bền vững và khả năng công nghiệp hóa, hiện đại hóa kinh tế biển ở Việt Nam.
Mặc dù, xu thế thế giới phát triển đang “lấy đại dương nuôi đất liền”, nhưng xuất phát từ thực tế nước ta, vùng ven biển vẫn được xem là khu vực "động lực" cho phát triển kinh tế biển nói riêng và kinh tế quốc dân nói chung hiện nay và trong tương lai gần. Trong đó, việc vận động người dân sống ở ven biển, trên hải đảo và người có sinh kế gắn liền với biển đảo hướng đến hành vi khai thác hiệu quả, bảo vệ và giữ gìn tài nguyên biển cùng với việc cải thiện sinh kế và xoá đói giảm nghèo…Trên cơ sở đó giúp họ thay đổi hành vi cá nhân trong cách đối xử với môi trường biển.
Để phát triển kinh tế biển, Việt Nam cần xây dựng chiến lược toàn diện và tổng thể về khai thác, sử dụng tài nguyên biển, hải đảo nhằm bảo đảm an ninh năng lượng và phát triển bền vững. Triển khai hiệu quả quy hoạch hệ thống khu bảo tồn biển đến năm 2020 để phát triển nghề cá và du lịch sinh thái biển bền vững.
Nguyễn Chu Hồi
