Cần hoàn thiện cơ chế trong việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu

Từ các kết quả nghiên cứu khoa học đến việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu là cả một quá trình đầy chông gai. Thành công trong nghiên cứu không đồng nghĩa với việc thành công trong thương mại hóa kết quả nghiên cứu đó.

Những thành công ban đầu trong chuyển giao công nghệ

Đã có rất nhiều những nghiên cứu được các nhà khoa học thuộc Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam nghiên cứu thành công, cũng như chuyển giao thành công cho các doanh nghiệp. Tuy nhiên, hiện vẫn tồn tại những khó khăn trong việc nghiên cứu và hợp tác với các doanh nghiệp để vừa phát huy tiềm lực nghiên cứu, vừa phát huy dòng sản phẩm hữu ích phục vụ cộng đồng, đồng thời có thể quay vòng tiếp tục nghiên cứu thêm các sản phẩm có tính ứng dụng khác để đưa đến người dân và doanh nghiệp.

Theo PGS-TS. Chu Hoàng Hà – Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, phụ trách lĩnh vực ứng dụng và triển khai công nghệ - Trong những năm qua, việc phát triển và chuyển giao công nghệ đã có những chính sách, từ đó Viện Hàn lâm đã có những hỗ trợ cho các đề tài phát triển công nghệ, phát triển sản phẩm thương mại,… đây cũng là một sự đổi mới để hỗ trợ cho các nhà khoa học sau khi có nghiên cứu ban đầu.

“Chúng tôi phát triển theo hướng hội nhập, khuyến khích các nhà khoa học đăng ký sở hữu trí tuệ, từ đó việc chia sẻ quyền lợi giữa doanh nghiệp, các Viện và nhà khoa học sẽ bài bản hơn. Cho đến nay lượng đăng ký sở hữu trí tuệ của Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam chiếm đến 60% trong tổng số các đăng ký của các Viện, trường ĐH trên cả nước.” - PGS-TS. Chu Hoàng Hà nói.

Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam khuyến khích các nhà khoa học khi nghiên cứu ra được công nghệ thì chuyển giao cho các doanh nghiệp. Một ví dụ như TS. Hà Phương Thư – Trưởng phòng Nano y sinh – Viện Khoa học vật liệu đã khá thành công trong việc chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp.

TS. Hà Phương Thư – Trưởng Phòng Nano y sinh, Viện Khoa học vật liệu (thuộc Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) – là một nhà nghiên cứu trẻ được nhiều người biết đến trong vài năm gần đây. Năm 2017 bà lọt vào danh sách “50 người phụ nữ có ảnh hưởng lớn nhất Việt Nam” do Forbes Việt Nam bình chọn. Cũng trong năm 2017 bà Thư nhận Giải thưởng Phụ nữ Việt Nam vì những đóng góp trong công cuộc chăm sóc sức khỏe cộng đồng. .

Cần hoàn thiện cơ chế trong việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu
TS. Hà Phương Thư – Trưởng Phòng Nano y sinh, Viện Khoa học vật liệu.

Hiện nay Phòng Nano y sinh do TS. Thư phụ trách đã nghiên cứu và chuyển giao thành công 3 dòng sản phẩm chính gồm: Sản phẩm nano trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng (đã chuyển giao cho Công ty cổ phần GoldHealth dùng điều trị hỗ trợ bệnh nhân ung thư); Sản phẩm dưỡng chất nano cho cây trồng; và sản phẩm kháng sinh nano dùng trong việc phòng và chữa trị bệnh cho gia súc, gia cầm.

“Sản phẩm nano trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng đã được chuyển giao cho GoldHealth được 4 năm và được các bệnh nhân ung thư phản hồi rất tích cực. Đối với sản phẩm thứ hai là dưỡng chất nano cho cây trồng được phát triển nhằm kích thích phát triển cho cây trồng cũng như phòng sâu bệnh, ứng phó với biến đổi khí hậu. Một dòng sản phẩm nữa đã được nhóm nghiên cứu chuyển giao là kháng sinh nano, bao gồm kháng sinh thông thường và kháng sinh thực vật, dùng trong việc phòng và chữa trị bệnh cho gia súc, gia cầm.” – TS. Hà Phương Thư cho biết.

Theo TS. Hà Phương Thư có được kết quả nghiên cứu khoa học là một điều vinh dự nhà khoa học mình đã đóng góp được cho nền tri thức nhân loại. Nếu kết quả nghiên cứu ấy được ứng dụng vào thực tế, phục vụ đời sống người dân thì niềm vui ấy được nhân lên nhiều lần.

“Chính vì vậy nhóm nghiên cứu của chúng tôi luôn tâm niệm đã làm nghiên cứu thì cái đích cuối cùng phải hướng đến cộng đồng.” TS. Hà Phương Thư chia sẻ.

Thiếu quy định, quy chuẩn cho sản phẩm mới

Theo TS. Thư, sản phẩm chuyển giao công nghệ và thương mại hóa sản phẩm luôn là thách thức lớn với các nhà khoa học. Lý do là chúng ta đang thiếu những quy định, quy chuẩn cho sản phẩm mới. Các nhà khoa học cũng đang rất thiếu các điều kiện, đặc biệt là điều kiện tài chính để đưa sản phẩm ra thị trường.

 

“Bất kỳ sản phẩm mới nào ra thị trường cũng vấp phải tâm lý e ngại của khách hàng, vì vậy các nhà khoa học gặp không ít khó khăn. Dù hiện nay các nhà khoa học đã được tài trợ nhiều về tài chính, nhưng các chính sách hỗ trợ cho việc nghiên cứu và phát triển, còn những nghiên cứu ứng dụng, khảo nghiệm, hoàn thiện công nghệ, … thì lại không có nhiều kinh phí.” – TS. Thư chia sẻ.

Thực tế, để hỗ trợ cho các nhà khoa học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ cần có những chính sách thúc đẩy phát triển sản phẩm hơn nữa. Đặc biệt là cấp cho các nhà khoa học các nguồn tài chính thiết thực để các nhà khoa học yên tâm phát triển công nghệ cũng như sản phẩm của mình.

Chia sẻ về điều này, TS. Phạm Hồng Quất – Cục trưởng Cục Phát triển thị trường và Doanh nghiệp KHCN, Bộ KH&CN – cho biết, việc khởi nghiệp hay chuyển giao kết quả nghiên cứu KHCN khó bao nhiêu thì làm chính sách thúc đẩy thương mại hóa KHCN cũng khó bấy nhiêu. Đây là cách tiếp cận mới, gắn với kinh tế thị trường, do đó tư duy là điều quan trọng nhất trong nghiên cứu khoa học cũng như trong việc xây dựng chính sách.

“Quả thật chúng tôi còn rất nhiều việc để làm.” – TS. Phạm Hồng Quất nói. “Những cụm từ “thương mại hóa”, “chuyển giao công nghệ”, “khởi nghiệp sáng tạo” đã bắt đầu xuất hiện khoảng 5-6 năm nay trong một số bộ luật, từ Luật Công nghệ, Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Hỗ trợ DNNVV, và rất nhiều Nghị định của Chính phủ. Mục tiêu là để khi startup không có điều kiện có thể gọi vốn từ nhà đầu tư.”

Ngoài ra, còn có hình thức liên kết hợp tác, thực chất là góp cổ phần với nhau thông qua một công ty, giúp mang công nghệ đi và cùng với tập đoàn chia sản phẩm, hoặc chia tiền bản quyền thu về. Coi như đó là kết quả của quá trình thương mại hóa, sau đó chia cho các nhà khoa học.

Bộ KH&CN cũng cho phép tiếp cận theo hướng này và còn có quy định là bảo vệ tới 30% tiền thu lợi nhuận chia cho nhà khoa học. Luật Sở hữu trí tuệ cũng đã quy định 15% tiền bản quyền hay 10% từ tiền thanh toán dịch vụ phải được chia cho tác giả/nhà khoa học.

Cần hoàn thiện cơ chế trong việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu
TS. Phạm Hồng Quất – Cục trưởng Cục Phát triển thị trường và Doanh nghiệp KHCN, Bộ KH&CN.

Thế nhưng, ông Quất cho biết, trong thực tiễn chưa chắc đã tìm được những công ty chuyên nghiệp như thế. “Nhiều doanh nghiệp cũng háo hức đến để tài trợ, xin hợp tác, nhưng sau đó thì dòng tiền lại không quay trở về với các nhà khoa học. Đây là một lỗ hổng về chính sách mà tôi cho rằng cần phải khắc phục.” ông Quất nói.

Một rào cản nữa là thủ tục giải ngân cho những nghiên cứu được thương mại hóa không dễ, đôi khi làm nản lòng các nhà khoa học. Đó là khi những nhà quản lý tài chính vẫn quan niệm tài sản trí tuệ chẳng khác gì tài sản hữu hình đã được quy định trong Luật Quản lý, sử dụng tài sản công.

Trong khi hầu như các nước tiên tiến trên thế giới, nhà nước thu lại một cách gián tiếp từ thuế và các lợi ích xã hội đem lại sau khi chuyển giao cho các Viện Nghiên cứu, Trường Đại học, thậm chí là chuyển giao cho nhà khoa học.

“Việc đầu tư cho khoa học không phải là xây một cây cầu hay con đường để mà thu phí được ngay. Tư duy là rất quan trọng, nếu không thay đổi tư duy, không có tầm nhìn dài, không coi KHCN thực sự là một phương tiện bền vững để phát triển kinh tế tri thức thì tư duy ngắn hạn sẽ ảnh hưởng đến cơ chế chính sách.” – TS. Phạm Hồng Quất nói.

Với cơ chế hiện nay, người đang đại diện cho quản lý tài chính quyền sở hữu công của nhà nước vẫn muốn thể hiện quyền của mình là kiểm soát. Do vậy mới chỉ có “giao quyền” chứ chưa thể có “trao quyền”. Ông Quất cho hay hiện tài chính chỉ cấp cho việc đào tạo, chuyên gia hỗ trợ, truyền thông, chứ chưa cho phép cấp trực tiếp, trong khi các nước khác họ có thể cấp luôn vài triệu đến vài chục triệu USD cho một nghiên cứu.

Nguyễn Tuân

 
List comment
 
 
Nhà sáng chế với công nghệ sản xuất chất siêu bán dẫn Fulleren giá 150 triệu USD/gam
icon

Học hết lớp 6, nhưng  là chủ nhân của 3 bằng sáng chế độc quyền và hàng chục sáng chế hữu dụng khác - ông chính là nhà sáng chế “chân đất” Trịnh Đình Năng.

 
 
Viện Công nghệ sinh học: Chuyển mình theo sự phát triển của đất nước
icon

Từ khi thành lập đến nay, Viện Công nghệ sinh học đã có nhiều đề tài nghiên cứu, chuyển giao thành công công nghệ ở nhiều lĩnh vực trọng điểm về gen, tế bào, nano, y - sinh.

 
 
ĐH Bách Khoa Hà Nội: Cái nôi của sáng chế kỹ thuật, đổi mới sáng tạo
icon

Bằng chiến lược và quyết sách đúng đắn, Đại học Bách Khoa Hà Nội (HUST) đã gặt hái được những thành tựu quan trọng trong quá trình nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ.

 
 
Viện Vắc xin và Sinh phẩm Y tế (IVAC): Hơn 40 năm bảo vệ sức khỏe người Việt
icon

Hơn 40 năm hoạt động, Viện Vắc xin và Sinh phẩm Y tế (IVAC) đã hoàn toàn tự chủ trong sản xuất vắc xin trong nước và cung cấp hơn 250 triệu liều vắc xin các loại.

 
 
ĐH Tôn Đức Thắng: Đột phá phát triển nhờ giáo dục tự chủ
icon

Tự chủ trong giáo dục đại học chính là chiếc chìa khóa đem lại bộ mặt đổi mới sáng tạo trong đào tạo nói chung và nghiên cứu khoa học nói riêng ở Đại học Tôn Đức Thắng (TDTU).

 
 
ĐH Quốc gia TP.HCM: Anh cả đại học về chuyển giao công nghệ
icon

Theo xếp hạng mới nhất, Đại học Quốc gia TP.HCM (ĐHQG-HCM) là đại học đứng số 1 Việt Nam về thu nhập từ chuyển giao công nghệ và đứng thứ 658 toàn cầu.

 
Đưa ứng dụng công nghệ gen vào Việt Nam và tiềm năng phát triển
icon

Từ một ý tưởng muốn đưa công nghệ gen vào phát triển ở Việt Nam một số người có hiểu biết về công nghệ gen và di truyền đã cùng nhau thành lập ra Gentis để phát triển ứng dụng công nghệ gen tại Việt Nam.

 
Lượng đơn xác lập quyền sở hữu công nghiệp tăng nhẹ trong năm 2020
icon

​Ngày 24/12/2020 tại Hà Nội, Cục Sở hữu trí tuệ (SHTT) tổ chức Hội nghị tổng kết công tác năm 2020, triển khai nhiệm vụ năm 2021.

 
Phê duyệt Chương trình phát triển tài sản trí tuệ đến năm 2030
icon

Ngày 24/12/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 2205/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phát triển tài sản trí tuệ đến năm 2030.    

 
Tăng cường hợp tác nghiên cứu khoa học song phương Việt Nam và Thụy Sĩ
icon

Trong đợt hợp tác đầu tiên, sẽ có 10 dự án nghiên cứu khoa học được lựa chọn với mức hỗ trợ lên tới 6,5 tỷ đồng cho mỗi đề tài và không giới hạn lĩnh vực.