Nông thôn mới: Kinh nghiệm từ Sơn La

Quá trình chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp và phát triển cây ăn quả gắn với phát huy lợi thế của địa phương, góp phần xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Sơn La giai đoạn 2010 – 2019.

Tỉnh Sơn La có 12 đơn vị hành chính gồm 01 thành phố và 11 huyện với 204 đơn vị hành chính cấp xã. Dân số toàn tỉnh Sơn La có 1.240.707 người với 12 dân tộc. Diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh có 1.412.349 ha. Đất đai trên địa bàn tỉnh Sơn La chủ yếu là nhóm đất đỏ vàng, đất mùn vàng đỏ trên núi và đất mùn trên núi cao.

Sơn La có hệ thống thủy văn phong phú, khá dày với 2 hệ thống chính là sông Đà dài 280 km với 32 phụ lưu và sông Mã dài 90 km với 17 phụ lưu. Lòng hồ thủy điện Sơn La, Hòa Bình có lượng nước lớn.

Từ các lợi thế nêu trên, cho thấy tỉnh Sơn La có thể phát triển các loại cây ăn quả (xoài, nhãn, bơ, chanh leo, mận, mơ, cam, quýt, bưởi, dứa, na, chuối, dâu tây, đào, táo, thanh long...), rau, củ, dược liệu, chè, cà phê, tre, gỗ, lâm sản ngoài gỗ, chăn nuôi, thủy sảntập trung, quy mô lớn và đa dạng hóa các sản phẩm nông sản, thủy sản mang tính đặc trưng của địa phương.

Quá trình chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp và phát triển cây ăn quả gắn với phát huy lợi thế của địa phương, góp phần xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Sơn La giai đoạn 2010 – 2019, năm 2018 tổng sản phẩm ngành Nông lâm nghiệp và thủy sản theo giá so sánh 2010 đạt 7.255,51 tỷ đồng, tăng 45,6% so với năm 2010; Cơ cấu ngành Nông lâm nghiệp và thủy sản trong tổng sản phẩm trên địa bàn năm 2010 là 37,67%, năm 2018 là 22,28%.

Giá trị sản phẩm cây hàng năm đạt 29,16 triệu đồng/ha, tăng 8,67 triệu đồng/ha so với năm 2010; cây lâu năm đạt 52,59 triệu đồng/ha, tăng 21,08 triệu đồng/ha so với năm 2010; nuôi trồng thủy sản đạt 96,49 triệu đồng/ha, tăng 31,66 triệu đồng/ha so với năm 2010.

Cơ cấu cây trồng, vật nuôi chuyển dịch mạnh theo hướng phát huy lợi thế so sánh, gắn với thị trường, nhất là các thị trường cao cấp, nâng cao giá trị và hiệu quả kinh tế; một số sản phẩm đã có thương hiệu trên thị trường trong nước và nước ngoài.

Tỉnh Sơn La đẩy mạnh đầu tư thâm canh, đưa các giống mới và áp dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất, hình thành các vùng nguyên liệu tập trung có diện tích hợp lý, tăng năng suất và chất lượng sản phẩm, tăng giá trị cạnh tranh trên thị trường.

Mối liên kết giữa Nhà nước - Nhà doanh nghiệp - Nhà nông - Nhà khoa học được hình thành, bước đầu tạo chuỗi sản xuất cho các sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản.

Theo báo cáo của UBND tỉnh Sơn La, ban Thường vụ tỉnh ủy đã vậndụng một số định hướng chính trong quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất để phát huy tiềm năng về đất đai, lao động, khí hậu.

Gắn phát triển sản xuất nông nghiệp áp dụng VietGAP, hữu cơ, ứng dụng công nghệ cao với giải quyết những vấn đề xã hội còn bức xúc như thiếu đất sản xuất, việc làm, thu nhập, xây dựng nông thôn mới, đảm bảo môi trường sinh thái và phát triển bền vững. Đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện 4 nội dung gồm:

 

Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất để phát triển lực lượng sản xuất làm động lực; chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa, nâng cao hiệu quả trên 1 đơn vị diện tích đấtcanh tác;

Tiến hành đổi mới quan hệ sản xuất, cho phù hợp với lực lượng sản xuất phát triển. Tập trung đổi mới trước về quan hệ trong tổ chức quản lý sản xuất; chuyển mạnh từ kinh tế cá thể nhỏ lẻ, hiệu quả thấp sang kinh tế tập thể;

Tiến hành đổi mới quan hệ phân phối sản phẩm, để hoàn thiện các chuỗi sản xuất nông sản, thủy sản bền vững. Tỉnh đã thu hút các tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp liên kết với các hợp tác xã trong phát triển vùng nguyên liệu thông qua hợp đồng liên kết sản xuất và tiêu thụ, gắn với đầu tư nhà máy chế biến nông sản, đưa sản phẩm vào chuỗi tiêu thụ tại các siêu thị, trung tâm thương mại trong nước và xuất khẩu các loại nông sản;

Tập trung lãnh đạo để tạo ra mối quan hệ tác động giữa phát triển lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất; trong đó coi trọng việc tiếp tục ứng dụng mạnh hơn khoa học, công nghệ vào sản xuất, bảo quản và chế biến; gắn với việc hoàn thiện mối quan hệ phân phối lợi ích (đổi mới quan hệ sản xuất) để phát triển theo hướng nâng cao chuỗi giá trị gia tăng và phát triển bền vững.

Trên cơ sở những thành quả đã đạt được về phát triển nông nghiệp, nông thôn nhất là trong phát triển cây ăn quả, thủy sản của những năm trước, tỉnh đã tổ chức Hội thảo và làm việc với Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ban Kinh tế Trung ương,... Ban Thường vụ tỉnh ủy đã ban hành Thông báo kết luận về một số chủ trương trồng cây ăn quả trên đất dốc (đang trồng ngô, lúa nương, sắn); Khai thác tiềm năng vùng hồ các thủy điện (Sơn La, Hòa Bình…) trên địa bàn tỉnh; Bảo vệ và phát triển rừng. Xác định người dân là nhân tố trung tâm để ban hành chủ trương, chính sách hỗ trợ; tập trung vận động làm thay đổi tư duy của hộ gia đình, từ đợi nhà nước hỗ trợ đầu tư, sang chủ động đầu tư phát triển theo định hướng và nhà nước hỗ trợ; giảm dần các khoản hỗ trợ trực tiếp từ ngân sách nhà nước.

Tổ chức các đoàn đi học tập kinh nghiệm trong nước và quốc tế. Tất cả các đoàn đi học tập kinh nghiệm đều có báo cáo kết quả và đề xuất giải pháp mới để thực hiện tại tỉnh; Ban Thường vụ Tỉnh ủy thảo luận và ban hành kết luận để tổ chức thực hiện như:

Đoàn đi học tập kinh nghiệm về sản xuất, chế biến và xuất khẩu sản phẩm quả tại 09 tỉnh: Bắc Giang, Đắk Lắk, Tây Ninh, Long An....; Đoàn đi thăm và thu hút doanh nghiệp đầu tư Nhà máy chế biến nông sản xuất khẩu, sản xuất phân hữu cơ tại Sơn La tại Tập đoàn TH, tỉnh Nghệ An; Tập đoàn Quế Lâm, tỉnh Thừa Thiên Huế; Công ty cổ phần thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao, tỉnh Ninh Bình; Công ty Lavifood, tỉnh Tây Ninh.

Đoàn đi học tập kinh nghiệm một số nước về phát triển các loại nông sản ứng dụng công nghệ cao tại Thái Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Israel.

Định kỳ 06 tháng, 1 năm Thường trực tỉnh ủy tổ chức Hội nghị đánh giá kết quả thực hiện và báo cáo Ban Thường vụ tỉnh ủy thảo luận, ban hành kết luận thực hiện tiếp theo.

Bên cạnh đó, Ban Thường vụ tỉnh ủy đã vậndụng một số định hướng chính trong quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất để phát huy tiềm năng về đất đai, lao động, khí hậu. Gắn phát triển sản xuất nông nghiệp áp dụng VietGAP, hữu cơ, ứng dụng công nghệ cao với giải quyết những vấn đề xã hội còn bức xúc như thiếu đất sản xuất, việc làm, thu nhập, xây dựng nông thôn mới, đảm bảo môi trường sinh thái và phát triển bền vững.

Nguyễn Tuân
 
List comment
 
 
Trao đổi, chia sẻ thông tin về tội phạm để hạn chế nạn mua bán người
icon

Trong 5 năm (2016-2020), các địa phương có chung đường biên giới với Campuchia, Lào và Trung Quốc chỉ đạo lực lượng chức năng tổ chức gần 1.000 cuộc gặp gỡ, giao ban có liên quan đến tình hình tội phạm mua bán người, giải cứu, trao trả nạn nhân...

 
 
Bắt 1.342 đối tượng phạm tội mua bán người ra nước ngoài trong 5 năm
icon

Từ năm 2016 đến tháng 9/2020, lực lượng Công an, Biên phòng đã điều tra, khám phá 1.024 vụ, bắt 1.342 đối tượng phạm tội mua bán người ra nước ngoài.

 
 
Việc hỗ trợ nạn nhân bị mua bán còn nhiều khó khăn, hạn chế
icon

Giai đoạn 2012-2020, lực lượng chức năng tỉnh Nghệ An đã hỗ trợ ban đầu cho 269 nạn nhân trở về địa phương. 01 nạn nhân được tiếp nhận, chăm sóc và nuôi dưỡng từ năm 2012 đến nay, đảm bảo các chế độ hỗ trợ theo quy định.

 
 
Nghệ An tiếp nhận 269 nạn nhân bị mua bán trong giai đoạn 2012-2020
icon

Giai đoạn 2016-2020, UBND tỉnh Nghệ An đã chỉ đạo các ngành chức năng liên quan rà soát, nghiên cứu, sơ kết, tổng kết thực hiện các văn bản pháp luật liên quan đến công tác tiếp nhận, xác minh, trao trả và bảo vệ nạn nhân.

 
 
Khó khăn trong công tác phòng, chống mua bán người ở Nghệ An
icon

Tội phạm mua bán người hình thành các đường dây, tổ chức chặt chẽ, nằm rải rác ở các tỉnh trong cả nước, thậm chí ở nước ngoài, với thủ đoạn hoạt động rất tinh vi, xảo quyệt, gây khó khăn cho việc tổ chức bắt giữ, xử lý.

 
 
Cần Thơ: Tổ chức lồng ghép phòng, chống mua bán người vào các chương trình giảm nghèo
icon

Một số mô hình lồng ghép ở Cần Thơ đã giải quyết cho nhiều chị em thoát nghèo, góp phần hạn chế tình trạng phụ nữ bị tội phạm mua bán người dụ dỗ, lôi kéo bỏ địa phương đi làm ăn xa.

 
Cần Thơ tổ chức lồng ghép hàng nghìn cuộc tuyên truyền về phòng chống tội phạm mua bán người
icon

Giai đoạn 2016 - 2020, Sở Lao động – Thương binh và xã hội Cần Thơ đã tổ chức tuyên truyền lồng ghép công tác phòng chống tệ nạn xã hội, phòng chống tội phạm mua bán người với 1.134 cuộc với 54.131 lượt người dự.

 
Tỉnh Tây Ninh tiếp nhận 83 nạn nhân vụ mua bán người trong 5 năm
icon

Theo UBND tỉnh Tây Ninh, từ năm 2016 đến tháng 6/2020 đã tổ chức tiếp nhận, xác minh, xác định, trao trả 83 nạn nhân qua các vụ xử lý hình sự về mua bán người.

 
Tây Ninh chưa xây dựng mô hình hỗ trợ hòa nhập cộng đồng cho nạn nhân bị mua bán
icon

Mặc dù các chỉ tiêu đạt 100% nhưng tỉnh Tây Ninh chưa xây dựng được mô hình hỗ trợ hòa nhập cộng đồng cho nạn nhân trên địa bàn tỉnh.

 
Tăng cường kiểm soát an ninh trật tự, phòng ngừa mua bán người ở Nghệ An
icon

Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về an ninh, trật tự, Công an tỉnh Nghệ An đã chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương liên quan tăng cường triển khai các biện pháp phòng ngừa nạn mua bán người.