Lào Cai: Thu hút học sinh DTTS đến trường, lấy giáo dục làm căn cơ giảm nghèo bền vững

Các trường mầm non, tiểu học trên địa bàn tỉnh Lào Cai đã tổ chức xây dựng môi trường tiếng Việt với nhiều sáng kiến, hoạt động cụ thể, thiết thực nhằm thu hút trẻ đến trường. 
Lào Cai: Thu hút học sinh DTTS đến trường, lấy giáo dục làm căn cơ giảm nghèo bền vững
Học sinh một trường tiểu học huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. (ảnh: N. Huyền)

Lào Cai là một tỉnh miền núi biên giới có 9 huyện, thành phố, 164 xã, phường, thị trấn, trong đó có 104 xã đặc biệt khó khăn, 1.007 thôn đặc biệt khó khăn; dân số hơn 60 vạn người, trong đó người dân tộc thiểu số (DTTS) chiếm 70%.

Xác định giáo dục có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc xóa đói giảm nghèo bền vững, Lào Cai hiện có 658 cơ sở giáo dục với 1.458 điểm trường, 196.792 học sinh. Trong đó, bậc học mầm non 200 trường, 2.353 nhóm/lớp; cấp tiểu học 223 trường (42 trường PTDTBT); cấp THCS 189 trường (78 trường PTDTBT); cấp THPT 36 trường (9 trường PTDTNT).

Để đảm bảo cho trẻ mầm non, tiểu học dân tộc thiểu số có kỹ năng cơ bản trong việc sử dụng tiếng Việt để hoàn thành chương trình giáo dục mầm non và chương trình giáo dục tiểu học, ngành giáo dục và đạo tạo tỉnh Lào Cai đã tổ chức thực hiện Đề án tăng cường tiếng Việt cho trẻ em mầm non, học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm 2025 đạt được nhiều kết quả tốt đẹp.

Theo đó, các trường mầm non, tiểu học trên địa bàn tỉnh đều đã tổ chức xây dựng môi trường tiếng Việt với nhiều sáng kiến, hoạt động cụ thể, thiết thực: gắn biển tên phù hợp vào vườn hoa, cây cảnh, cây rau, trang trí lớp học theo các chủ đề; tổ chức nhiều hoạt động trò chơi, rèn luyện kỹ năng gắn bó với môi trường sống của các em: đan lát, thêu thùa, trồng rau, tưới cây...; xây dựng môi trường giàu chữ viết trong và ngoài lớp học thông qua góc học tập, treo khẩu hiệu, băng rôn; tổ chức các hoạt động thi đọc hiểu, viết văn, kể chuyện về con người và cuộc sống xung quanh, kể chuyện theo sách; thi vẽ truyện tranh, làm cây từ vựng; xây dựng thư viện xanh, thư viện lưu động, thư viện góc lớp;  tổ chức các hoạt động ngoại khoá, trải nghiệm sáng tạo, tổ chức trò chơi dân gian cho các em học sinh... 

Những hoạt động này nhằm tạo sự thu hút, gần gũi, thân thiện với bạn bè, thầy cô giáo, nhà trường, từ đó các em học sinh tích cực đến trường, chủ động tham gia các hoạt động của nhà trường, nâng cao chất lượng học tập.

Bên cạnh đó, sự phối hợp của cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể địa phương và phụ huynh học sinh trong việc tham gia chỉ đạo, tổ chức các hoạt động cũng là những biện pháp tích cực thúc đẩy quá trình làm quen, sử dụng tiếng Việt trong học tập của các em học sinh.

 

Từ sự tích cực thực hiện đề án, chất lượng trẻ em, học sinh được nâng cao. Tỷ lệ chuyên cần đạt 99,6% - tình trạng trẻ bỏ học không đến trường đã giảm hẳn. Tỷ lệ trẻ 5 tuổi mạnh dạn, tự tin và được chuẩn bị tốt tiếng Việt, chuẩn bị tốt tâm thế vào lớp 1 đạt 98%. Tỷ lệ trẻ đến trường được tăng cường kỹ năng nghe, nói tiếng Việt phù hợp đạt 100%. Tỷ lệ huy động trẻ 6 tuổi vào lớp 1 đạt 99,8%. Học sinh được đánh giá hoàn thành tốt môn tiếng Việt đạt 31% (vượt 1% so với kế hoạch), hoàn thành đạt 66,5% (vượt 1,5% so với kế hoạch).

Việc tăng cường tiếng Việt tại các trường đã giúp các cháu học sinh dân tộc thiểu số đọc đỡ ngọng hơn, viết ít sai lỗi chính tả, kỹ năng đọc hiểu, kỹ năng viết văn của các em tốt hơn, các em say mê và yêu thích học môn tiếng Việt và học tốt hơn các môn học khác, các em rất tự tin, chủ động trong giao tiếp và vui chơi, kỹ năng sống của các em cũng tốt hơn. Đây là tiền đề đặc biệt quan trọng của học sinh dân tộc thểu số để tiếp tục học tốt hơn các cấp học tiếp theo.

Từ thực tiễn có thể rút ra những bài học kinh nghiệm trong sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo vùng DTTS, miền núi, đó là chú trọng công tác tham mưu để cả hệ thống chính trị vào cuộc trong việc triển khai, thực hiện nhiệm vụ đối với giáo dục ở vùng DTTS, miền núi.

Trong chỉ đạo phải có chiến lược, xác định rõ mục tiêu nhiệm vụ trọng tâm, có lộ trình phấn đấu, sâu sát với cơ sở, yêu cầu cao và thực chất; tăng cường kỷ cương nền nếp; chú trọng và thường xuyên làm tốt công tác thanh tra, kiểm tra; đồng thời nhân rộng điển hình tiên tiến, các mô hình hiệu quả một cách phù hợp. Đổi mới công tác quản lý của hiệu trưởng là yếu tố tiên quyết.

Hiệu trưởng phải đi đầu trong đổi mới, có nhận thức, tâm huyết, trách nhiệm với mọi hoạt động giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường. Đội ngũ là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục, nên việc thay đổi nhận thức, bồi dưỡng, tự bồi dưỡng nâng cao năng lực, trình độ lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, ý thức vượt khó, sáng tạo, trách nhiệm, tâm huyết cho đội ngũ là yếu tố quyết định cho sự thành công của giáo dục vùng DTTS. Đồng thời, chú trọng làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, xã hội hóa giáo dục để tạo động lực trong đội ngũ, tạo sự đồng thuận của xã hội ủng hộ tinh thần và vật chất cho phát triển sự nghiệp giáo dục.

H. Anh

 
List comment
 
 
Đưa giống cam nổi tiếng ở Hòa Bình về trồng, dân Cao Sơn 'đổi đời' thu hàng chục triệu đồng
icon

Mặc dù cây cam mới được người dân đưa về vùng đất Cao Sơn thuộc xã Lũng Cao (huyện Bá Thước, Thanh Hóa) trồng mấy năm gần đây nhưng những vườn cam này đã mang lại thu nhập ổn định cho những gia đình nơi đây.

 
 
Chàng trai dân tộc thoát nghèo nhờ mô hình nuôi giun quế
icon

Với giá thành 15.000 đồng/kg giun, mỗi năm chàng trai người dân tộc bán được trung bình 5- 7 tấn, chuồng nuôi giun quế đã trở thành nguồn thu chính của gia đình anh.

 
 
Sơn La: Nhiều hộ đồng bào dân tộc giảm nghèo nhờ trồng lan
icon

Hoa lan Mộc Châu đang từng bước xây dựng được thương hiệu và trở thành sản phẩm du lịch độc đáo, hấp dẫn, thu hút nhiều khách du lịch đến tham quan và giúp người dân nơi đây xóa đói giảm nghèo.

 
 
Đắk Lắk: Giảm nghèo bền vững nhờ trồng bơ xen canh với cà phê, hồ tiêu
icon

Những năm gần đây, cây bơ mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân vùng Tây Nguyên, nhất là những dòng bơ chất lượng cao, trái vụ.

 
 
Lạng Sơn chỉ rõ những hạn chế trong 10 năm nỗ lực thực hiện giảm nghèo
icon

Một số hạn chế tỉnh Lạng Sơn chỉ ra trong giai đoạn 10 năm thực hiện công tác giảm nghèo đó là kết quả giảm nghèo chưa bền vững, tỷ lệ hộ nghèo các xã, thôn đặc biệt khó khăn còn cao, tiềm ẩn nguy cơ tái nghèo, nghèo mới...

 
 
Sự chung tay của cả xã hội giúp thoát nghèo bền vững
icon

Cùng với các chính sách của UBND tỉnh Lạng Sơn, nhiều cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và phong trào các Hội đã cùng chung tay để đạt được kết quả tốt nhất trong công tác giảm nghèo.

 
Tây Ninh: Chương trình 135 giúp nhiều hộ thoát nghèo
icon

UBND tỉnh Tây Ninh dự kiến năm 2020 có thêm 7 xã Chương trình 135 hoàn thành các tiêu chí xây dựng nông thôn mới, nâng tổng số xã hoàn thành Chương trình 135 là 13/16 xã.

 
Lạng Sơn đã hỗ trợ trên 13.600 hộ nghèo làm nhà ở
icon

Trong giai đoạn 2011 – 2020, UBND tỉnh Lạng Sơn đã hỗ trợ cho 13.646 hộ nghèo làm nhà ở. Trong đó, theo quyết định số 167 của Chính phủ là 6.009 nhà; theo quyết định số 33 của Thủ tướng Chính phủ là 2.543 nhà. 

 
Lạng Sơn: Hàng nghìn học sinh nghèo được miễn, giảm học phí
icon

Trong 10 năm, từ 2011 đến 2020, tỉnh Lạng Sơn đã thực hiện hiệu quả các chính sách miễn, giảm học phí; cũng như hỗ trợ tiền ăn bán trú cho học sinh nghèo.

 
Kịp thời các nguồn vốn để thực hiện các chính sách giảm nghèo ở Lạng Sơn
icon

Theo UBND tỉnh Lạng Sơn, giai đoạn 2011-2020, nguồn vốn bố trí để thực hiện các chính sách giảm nghèo cơ bản được đảm bảo kịp thời theo định mức.