Đề cử Lễ hội Đô thị Nước Mặn vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia

Lễ hội Đô thị Nước Mặn là dịp để người dân hiểu nhiều hơn về vùng đất của cảng thị và vai trò của cảng thị Nước Mặn đối với đời sống kinh tế - văn hóa Bình Định bao thế kỷ qua.

Lễ hội dân gian độc đáo

Đầu tháng 8/2021, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định Lâm Hải Giang vừa ký Công văn số 4662 gửi Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch, về việc đề cử Lễ hội Đô thị Nước Mặn đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia

Lễ hội Đô thị Nước Mặn là một trong những lễ hội dân gian có quy mô lớn và ra đời sớm ở tỉnh Bình Định, cách đây gần 4 thế kỷ. Hàng năm, lễ hội được tổ chức trong ba ngày: Ngày cuối tháng Giêng âm lịch, có thể ngày 29 hay ngày 30 tùy tháng thiếu hay đủ, và từ ngày 1 đến ngày 2 tháng Hai âm lịch. Thời gian tổ chức lễ hội có thể được kéo dài thêm sang ngày 3 và ngày 4 tháng Hai âm lịch.

Lễ hội đã phục dựng nhiều hoạt động văn hóa đặc trưng vùng thương cảng Nước Mặn sầm uất và trù phú như rước linh tổ tiên của vùng đất này với cả 4 đối tượng ngư – tiều – canh – mục được thờ trong 4 ngôi miếu trấn giữ làng ở cả 4 hướng đông – tây – nam – bắc. Bên cạnh những hoạt động đặc trưng như võ thuật, hát tuồng và hát bài chòi cổ, người dân còn được tham gia nhiều hoạt động văn hóa, thể thao dân gian khác.

Lễ hội được tổ chức tại chùa Bà (thôn An Hòa, xã Phước Quang, huyện Tuy Phước), nơi thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu. Chùa mang nét văn hóa, tôn giáo, thể hiện sự hòa hợp giữa các tộc người khác nhau từ nhiều thế kỷ trước đã tạo nên cảng thị sầm uất, có tên trên nhiều hải đồ của các quốc gia trên thế giới. Người dân đã xây dựng Chùa Bà để thờ cúng, cầu cho mưa thuận gió hòa, trời yên biển lặng.

Ở thôn An Hòa hiện vẫn còn lưu truyền những câu ca dao: “Tháng Giêng xem hội chùa Ông - Mà lòng nhấc nhổm chờ mong hội Bà - Ai đi buôn bán nơi xa - Lo về kịp hội quê nhà thường niên”.

Đề cử Lễ hội Đô thị Nước Mặn vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

Ý nghĩa nhân văn sâu sắc

 

“Lễ hội là một hồi ức về cảng thị lớn nhất phủ Quy Nhơn thuở trước, đã suy tàn và hóa thân thành thành phố biển Quy Nhơn ngày nay. Lễ hội Đô thị Nước Mặn có ý nghĩa sâu sắc bởi đó là hơi thở, là nhịp đập từ trong quá khứ vọng về hiện tại và từ hiện tại hồi tưởng về quá khứ; là dịp để người dân hiểu nhiều hơn về vùng đất của cảng thị và vai trò của cảng thị Nước Mặn đối với đời sống kinh tế - văn hóa Bình Định bao thế kỷ qua”, công văn của UBND tỉnh Bình Định nhấn mạnh.

Cũng theo lãnh đạo UBND tỉnh Bình Định, các hoạt động trong lễ hội mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, giáo dục về truyền thống uống nước nhớ nguồn, truyền thống yêu quê hương đất nước cho các thế hệ mai sau. Từ đó khơi dậy tinh thần tiếp nối truyền thống trong nhân dân, cố gắng trong lao động, sản xuất để xây dựng vùng đất lịch sử này thêm giàu đẹp.

Thời gian qua, UBND tỉnh Bình Định đã chỉ đạo Sở Văn hóa và Thể thao phối hợp với UBND huyện Tuy Phước và các tổ chức, cá nhân liên quan lập hồ sơ khoa học Lễ hội Đô thị Nước Mặn trình Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Đến nay, hồ sơ Lễ hội đã hội đủ điều kiện theo quy định tại Thông tư số 04 ngày 30/6/2010 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định việc kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể và lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể để đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Box:

Nhằm tôn vinh đúng giá trị đích thực về lịch sử, văn hóa, đồng thời định hướng cho công tác bảo vệ và phát huy giá trị của một di sản lễ hội truyền thống trong quá trình hội nhập, phát triển bền vững, UBND tỉnh Bình Định đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quan tâm xem xét, quyết định ghi danh, đưa Lễ hội Đô thị Nước Mặn vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Ngọc Mai

Chủ đề :

Tôn giáo

 
List comment
 
 
Nhiều giải pháp giảm nạn tảo hôn, hôn nhân cận huyết ở Bình Định
icon

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong đồng bào các dân tộc thiểu số ở Bình Định. Cần kết hợp nhiều giải pháp để giảm thiểu triệt để tình trạng này.

 
 
Dạy nghề, tạo sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số
icon

Nhờ học nghề, 86,1% người dân tộc thiểu số (DTTS) từ 15 tuổi trở lên đã có việc làm.

 
 
Nguy cơ mai một tiếng nói, chữ viết dân tộc thiểu số ở Cao Bằng
icon

Tiếng nói, chữ viết của một số dân tộc thiểu số ở tỉnh Cao Bằng đang có nguy cơ bị mai một cao, cần phải có thêm nhiều biện pháp bảo tồn, lưu giữ.

 
 
Tuyên truyền về dân tộc, tôn giáo qua triển lãm lưu động
icon

Triển lãm ảnh tuyên truyền về cộng đồng các dân tộc và tôn giáo Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc năm 2021 sẽ phát huy những giá trị của dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo trong đời sống xã hội.

 
 
Phục hồi nhà Rông để bảo tồn giá trị di sản văn hóa dân tộc
icon

Tỉnh Kon Tum phấn đấu đến năm 2022, 100% thôn, làng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) trên địa bàn tỉnh có nhà Rông văn hóa.

 
 
Quảng Ninh: Diện mạo mới ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số
icon

Nhờ chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số, đời sống đồng bào dân tộc thiểu số ở Quảng Ninh đã được cải thiện đáng kể.

 
Lạng Sơn: Hiệu quả từ hỗ trợ sinh kế vùng đồng bào dân tộc thiểu số
icon

Chương trình 135 giai đoạn 2016 – 2020 ở Lạng Sơn tập trung phát triển cơ sở hạ tầng và hỗ trợ người dân làm kinh tế đã góp phần làm thay đổi tích cực đời sống, sản xuất của người dân tộc thiểu số.

 
Đồng bào dân tộc thiểu số Hà Giang: Nỗ lực vươn lên thoát nghèo
icon

Nhờ các chính sách hỗ trợ của Nhà nước, được ví như trao “cần câu” cho hộ nghèo, nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ở Hà Giang đã có điều kiện phát triển sản xuất, vươn lên thoát nghèo.

 
Bắc Kạn: Bản làng vùng DTTS đổi thay nhờ Chương trình 135
icon

Những năm qua, nhờ thực hiện tốt Chương trình 135, diện mạo vùng dân tộc và miền núi, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn (ĐBKK) trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn đã có những chuyển biến tích cực.

 
Đồng bào các dân tộc tỉnh Yên Bái: Lạc quan giữa mùa dịch
icon

Giữa thời điểm khó khăn của đại dịch Covid-19 nhưng đồng bào các dân tộc ở Yên Bái vẫn lạc quan, yêu đời.